Chào mừng quý vị đến với Website của Lê Tấn Dũng.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Bài viết > Chia sẻ kinh nghiệm >

Hiệp định Pari 1973

Hiệp định Paris 1973Bách khoa toàn thư mở WikipediaLê Đức Thọ và H. KissingerHiệp Định Paris là hiệp định chấm dứt Chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, Việt Nam Dân Chủ Cộng HoàChính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Lê Đức ThọHenry Kissinger, hai nhân vật chủ yếu trong cuộc đàm phán, đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973. Quá trình đàm phán
Việc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam là việc phải xảy ra khi chẳng ai dứt điểm được ai bằng quân sự. Sau sự kiện Tết Mậu Thân - 1968 các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam. Việc thương lượng đã diễn ra rất phức tạp vì, một mặt, các bên chưa thật sự thấy cần nhượng bộ và, mặt khác, Liên Xô Trung Quốc muốn can thiệp vào đàm phán - đặc biệt là Trung Quốc. Nước này không muốn Bắc Việt Nam tự đàm phán mà muốn thông qua Trung Quốc giống như Hiệp định Genève năm 1954. Nhưng Bắc Việt Nam cự tuyệt dù bị áp lực bởi hai đồng minh.
Hội đàm được chọn tại Paris trải từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 1 năm 1973. Ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hoa Kỳ; sau mở ra thành hội nghị bốn bên, thêm Việt Nam Cộng Hoà Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam.(Để đi đàm phán có chính danh một chính phủ có tính tính pháp lý cao hơn trong năm 1969 phía Cộng Sản cho thành lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam trong lòng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam).Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và điều đó đúng với Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ 1968 đến 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong suốt quá trình hội nghị các cuộc họp chính thức chỉ mở màn, tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được rồi kết thúc mà không đi vào thực chất. Chỉ có các cuộc tiếp xúc bí mật của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của Tổng Thống Hoa Kỳ - Richard Nixon, là đi vào thảo luận thực chất nhưng không đi được đến thoả hiệp.Đến giữa năm 1972, khi Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ đã mệt mỏi bởi chiến tranh kéo dài và thực sự muốn đi đến kết thúc, thì đàm phán mới đi vào thực chất thoả hiệp.
  • Lập trường ban đầu của Hoa Kỳ: quân đội Hoa Kỳ cùng các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc rút quân Bắc Việt khỏi Nam Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hoà bình.
  • Lập trường ban đầu của Bắc Việt Nam: quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏi Việt Nam, quân đội Bắc Việt Nam có quyền ở lại chiến trường miền Nam. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không được tồn tại trong giải pháp hoà bình.
Trong đó vấn đề quy chế của quân đội Bắc Việt tại chiến trường miền Nam Việt Nam là cốt lõi, chìa khoá của mọi mâu thuẫn của các bên. Cuối năm 1972, đã quá mệt mỏi vì chiến tranh kéo dài và bị dư luận trong nước và quốc tế đòi hỏi giải quyết vấn đề hoà bình ở Việt Nam trong thời gian nhiệm kỳ tổng thống của mình như đã hứa, chính phủ Hoa Kỳ của Tổng thống Richard Nixon đã nhượng bộ trong vấn đề cốt lõi này. Về phía mình Bắc Việt Nam cũng nhượng bộ về vấn đề quyền tồn tại của chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.Dự thảo khung của thoả hiệp đạt được là: "Quân đội Mỹ và các đồng minh nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam, quân đội Bắc Việt Nam được ở lại miền Nam Việt Nam, chính quyền của Tổng thống Thiệu được quyền tồn tại trong một giải pháp hoà bình, trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày." Các mốc thời gian để đạt được Hiệp định Paris
  • Ngày 11 tháng 9 năm 1972, lần đầu tiên kể từ khi Kissinger bắt đầu hội đàm bí mật với Hà Nội vào tháng 8 năm 1969, Bắc Việt đã gợi ý rằng họ có thể sẽ chấp nhận một cuộc ngừng bắn tại Nam Việt Nam mà không cần loại bỏ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Một sự thỏa hiệp bắt đầu có vẻ khai thông.
  • Ngày 12 tháng 10, Kissinger Lê Đức Thọ đi đến một bản nháp hiệp định gồm 9 điểm. Nội dung đó chưa đầy đủ nhưng nó đã tạo được một bước đột phá lớn. Dự thảo đã tách các vấn đề thuần túy quân sự khỏi các vấn đề chính trị. Nó cho phép một cuộc ngừng bắn tại chỗ, sự rút quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài về nước, sự trao trả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày, và thiết lập một qui trình mơ hồ mà qua đó người Việt Nam sau đó sẽ tự quyết định tương lai của mình. Theo nghĩa rộng, sự thỏa hiệp này cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hoà bình, cho Cộng sản và Bắc Việt nam một vị thế chính thức tại miền Nam Việt Nam, đồng thời khẳng định lập trường nguyên tắc của Hà Nội rằng Việt Nam là một quốc gia chỉ đang tạm thời bị chia cắt. Bản dự thảo này đã đáp ứng được yêu cầu của Hoa Kỳ là ra đi trong danh dự và đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của phía Bắc Việt Nam.
  • Ngày 13 đến 16 tháng 10, Tổng thống Richard Nixon sau khi nghiên cứu đã chấp thuận nội dung dự thảo, rồi điều Kissinger đến Sài Gòn để thuyết phục Tổng thống Thiệu.
  • Ngày 18 đến 23 tháng 10, Kissinger đến Sài Gòn gặp Nguyễn Văn Thiệu. Tổng thống Thiệu không tỏ thái độ mà chỉ yêu cầu làm rõ và so sánh giữa hai bản tiếng Việt tiếng Anh. Kissinger tưởng rằng Thiệu sẽ chấp thuận, ông thông báo với Nixon như vậy. Theo tinh thần đó, ngày 21 tháng 10, Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội khẳng định rằng dù một số vấn đề cần làm rõ, "nội dung hiệp định đã có thể được coi là hoàn chỉnh" và việc ký kết ngày 31 tháng 10 có thể khả thi. Kissinger sẽ tới Hà Nội ngày 24 để tổng kết phiên đàm phán cuối cùng dài 2 ngày, và một tuần sau sẽ ký kết chính thức tại Paris.
  • Ngày 23 tháng 10, tại cuộc gặp thứ năm và là cuộc gặp cuối cùng tại Sài Gòn, cuối cùng Tổng thống Thiệu đã tuyên bố chính thức các đánh giá của mình: ông phản đối kịch liệt bản dự thảo 9 điểm coi đây là hiệp định hy sinh quyền lợi của Việt nam Cộng hoà, đòi các lực lượng Bắc Việt phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, thiết lập vùng phi quân sự làm biên giới với miền Bắc. Ông còn coi giải pháp hội đồng hiệp thương là một hình thức chính phủ liên bang trá hình. Tổng thống Thiệu lên đài phát thanh tuyên bố bác bỏ nguyên tắc một nước Việt Nam thống nhất: "Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam, mọi người phải chấp nhận thực tế là tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào". Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội nói rằng do các khó khăn ở Sài Gòn, việc ký kết vào ngày 31 là không thể được và đề nghị một vòng đàm phán mới. Chuyến bay của Kissinger tới Hà Nội bị hủy bỏ.
  • Ngày 25 tháng 10, báo động bởi việc Nixon rút lui khỏi ký kết và bởi phản đối của Thiệu, Hà Nội công bố tóm tắt nội dung bản dự thảo và cảnh báo về các hậu quả nghiêm trọng nếu Mỹ không ký kết vào ngày 31 tháng 10. Mục đích là để ép Mỹ giữ vững giao ước ban đầu bất kể đến Thiệu. Khi tin này đến Washington D.C. vào sáng 26 tháng 10, Kissinger lên truyền hình tuyên bố "hòa bình trong tầm tay", với mục đích đảm bảo với Hà Nội và cảnh báo Sài Gòn về mong muốn nghiêm túc của Washington về một sự dàn xếp. Chỉ 6 tiếng sau, Bắc Việt Nam gửi điện đồng ý với một vòng đàm phán mới tại Paris.
  • Ngày 2 tháng 11, Nixon tuyên bố trên truyền hình rằng bản dự thảo còn có những phần "mập mờ" "cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng". Ông quyết định sẽ thỏa mãn mọi ngờ vực của Thiệu về vấn đề chủ quyền, và chỉ thị Kissinger tìm kiếm một nhượng bộ về khía cạnh khu phi quân sự, và nếu đạt được điều đó thì họ sẽ ép Thiệu ký. Nếu Thiệu vẫn tiếp tục từ chối thì Mỹ sẽ ký kết hiệp ước hòa bình riêng với Hà Nội.
  • Ngày 20-25 tháng 11, Kissinger cuối cùng cũng quay lại Paris. Hai bên đi đến được đồng thuận về ngôn ngữ khẳng định rằng khu vực phi quân sự là đường phân chia chính trị khu vực.
  • Ngày 29 tháng 11, Nguyễn Phú Đức, đặc phái viên của Thiệu, bay đến Washington D.C. báo với Nixon rằng nhượng bộ của Hà Nội là không đủ. Nixon loại bỏ hầu hết các yêu cầu của Đức trong đó có cả sự rút quân Bắc Việt ra khỏi miền Nam. Nhưng Nixon vẫn chưa yên tâm về vấn đề khu phi quân sự và yêu cầu Kissinger đưa vấn đề này ra bàn lại tại Paris.
  • Ngày 3 tháng 12, dự đoán về một thất bại trong đàm phán và Mỹ ném bom trở lại, Hà Nội bắt đầu sơ tán trẻ em ở thủ đô về nông thôn.
  • Ngày 4-13 tháng 12, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Bắc Việt, và nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Bắc Việt phản ứng bùng nổ bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa ra đòi hỏi mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù binh Mỹ. Tháng 10, phía Bắc Việt đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày. Nay họ muốn gắn việc trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam - một vấn đề mà họ đã từng đồng ý dành nó cho các thương thảo cụ thể sau này giữa các bên Việt Nam. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán.
  • Ngày 14 tháng 12, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: trong 72 giờ đồng hồ để quay lại ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam.
  • Ngày 18 tháng 12, Hoa Kỳ bắt đầu cho máy bay B–52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác. Đợt ném diễn ra trong 12 ngày (18 tháng 12 đến 30 tháng 12), đó là Chiến dịch Linebacker II. Không khuất phục được Hà Nội, bị thiệt hại nặng nề cho lực lượng không quân và nhất là bị dư luận quốc tế và trong nước phản đối mạnh mẽ, chính phủ Hoa Kỳ buộc phải chấm dứt ném bom quay lại đàm phán và đồng ý ký kết Hiệp định Paris theo phương án đã ký tắt hồi tháng 10 với một vài sửa đổi nhỏ có tính kỹ thuật. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định nhưng vì áp lực nếu không chấp nhận thì Hoa Kỳ sẽ đơn phương ký với Hà Nội và từ bỏ trách nhiệm với Việt Nam Cộng hòa nên phải chấp nhận ký.
  • Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 như một thắng lợi quan trọng của Bắc Việt Nam. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, quân nhân Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đối với vấn đề Việt Nam. Từ nay chỉ còn quân đội Việt Nam Cộng hòa đơn độc chống lại quân Cộng sản ngày càng mạnh.
 Nội dung chính của hiệp định và lập trường các bênNội dung hiệp định được chia thành chín "chương", nói về các chủ đề về cơ bản giống như trong bản dự thảo 9 điểm mà Hoa Kỳ và Việt nam Dân chủ Cộng hoà đã thống nhất với nhau vào tháng 10 năm 1972. Đó là:Phía Hoa Kỳ ký kết Hiệp Định Paris
  1. Hoa Kỳ tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi hiệp định Geneva.
    Đây là lập trường có tính nguyên tắc mà phía Bắc Việt Nam kiên quyết giữ vững. Phía Việt Nam Cộng Hòa coi đây là điều khoản nguy hại cho mình nên đã ra sức bác bỏ. Hoa Kỳ thuyết phục tổng thống Thiệu rằng điều khoản này chỉ có tính nguyên tắc trên lý thuyết, thực tế không trực tiếp gây nguy hại cho an ninh của Việt Nam Cộng hoà; rằng ngoài ra trong hiệp định còn có điều khoản quy định Nhân dân Miền Nam Việt Nam có quyền tự định đoạt chế độ chính trị của mình thông qua bầu cử có giám sát quốc tế, là điều khoản vô hiệu hoá được mối đe doạ của điều khoản thứ nhất này.
    Năm 1973, sau khi ký chính thức hiệp định trong một chuyến đi hội đàm đến Hà Nội ông Kissinger có đến thăm
    Bảo tàng lịch sử Việt Nam tại Hà Nội, Khi nghe cán bộ bảo tàng dịch nghĩa các câu thơ chữ Hán của bài thơ "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt trên tường nhà bảo tàng, ông Kissinger nhận xét: "Điều 1 khoản 1 của Hiệp định Paris!"[1]
  2. Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973: với tất cả các đơn vị quân sự ở nguyên vị trí. Mọi tranh chấp về quyền kiểm soát lãnh thổ sẽ được giải quyết bởi uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng của Việt Nam Cộng hòa và Việt Cộng. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa. Các bên không được tăng cường binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh vào Nam Việt Nam, trong trường hợp để thay thế thì phải theo nguyên tắc một-đổi-một. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục can thiệp quân sự vào "các vấn đề nội bộ" của Nam Việt Nam.
    Đây là vấn đề quan trọng số một là thực chất của hiệp định nó quy định quân đội Hoa Kỳ và đồng minh phải rút hết khỏi Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, trong khi đó quân đội Bắc Việt Nam tiếp tục được ở lại trên chiến trường miền Nam đây là nhượng bộ lớn nhất mà qua 4 năm đấu tranh trên chiến trường và bàn hội nghị cuối cùng Hoa Kỳ đã thoả hiệp. Đây là điều khoản mà Việt Nam Cộng hoà cương quyết bác bỏ vì thấy trước là mối hiểm hoạ nhất định nổ ra sau khi Hoa Kỳ rút hết quân. Trong chương này có điều khoản về thay đổi quân số và binh bị theo nguyên tắc một-đổi-một: đây là nhượng bộ của phía Bắc Việt Nam nhưng thực ra điều khoản này trên thực tế sẽ nhanh chóng bị vô hiệu hoá vì không có một lực lượng nào có thể kiểm chứng số lượng, trang bị của quân Bắc Việt Nam trên chiến trường và trên đường tiếp tế.
Tập tin:Nguyen Thi Binh Paris 1973.jpg Bộ Trưởng Nguyễn Thị Bình ký hiệp định
  1. Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của các phía Việt Nam.
    Điều khoản trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày có tầm quan trọng rất lớn và cực kỳ nhạy cảm đối với chính phủ của Tổng thống Nixon. Uy tín chính quyền Nixon trong con mắt người dân Mỹ phụ thuộc lớn vào việc có nhanh chóng đưa được các tù binh Mỹ về nước như đã hứa khi bầu cử tổng thống hay không và điều rất quan trọng nữa là điều này tạo ra được ấn tượng tâm lý "ra đi trong danh dự". Việc giải phóng tù binh không điều kiện, còn tù nhân dân sự sẽ được giải quyết sau phản ánh nguyên tắc của phía Hoa Kỳ là tách các vấn đề thuần tuý quân sự ra khỏi các vấn đề rất phức tạp về chính trị. Chính vì vấn đề tù binh Mỹ quá quan trọng với chính quyền của Tổng thống Nixon nên đây cũng là một lý do giải thích cho phản ứng rất dữ dội của Nixon bằng chiến dịch Linebacker II khi phía Bắc Việt Nam đặt lại vấn đề phóng thích tù binh phải gắn liền với vấn đề tù chính trị.
  2. Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng. Nhân dân Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua "tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế".
    Điều khoản này phản ánh thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Phía Mỹ yêu cầu phải có điều khoản bảo đảm cho quyền của nhân dân miền Nam quyết định tương lai chính trị của mình thông qua bầu cử tự do dân chủ dưới sự giám sát quốc tế là để ngăn ngừa về mặt pháp lý sự thôn tính bằng vũ lực của Bắc Việt Nam đối với Nam Việt Nam. Đối với yêu cầu này Bắc Việt Nam không có phản đối gì đặc biệt.
  3. Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình.
    Chương này khẳng định ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời theo như quy định tại Hiệp định Genève. Hai bên Việt Nam sau này tiến hành đàm phán để đi đến thống nhất Việt Nam... cụ thể vấn đề thống nhất chỉ mang tính nguyên tắc không có cơ chế thi hành: các biện pháp đó là gì, tiến hành như thế nào thì hiệp định chưa xem xét đến.
  4. Để giám sát việc thực hiện hiệp định, một uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế và phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên (gồm Bắc Việt, Hoa Kỳ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) sẽ được thành lập.
    Cơ chế giám sát thi hành này trong thực tế không có hiệu lực gì đáng kể.
  5. Lào Campuchia giữ vị trí trung lập và tự chủ, không cho nước ngoài được phép giữ các căn cứ quân sự trong lãnh thổ của hai nước này.
    Đây là trói buộc của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đối với các căn cứ và tuyến vận chuyển của Bắc Việt Nam và cộng sản miền Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào và Campuchia. Đây là một nhượng bộ của phía cộng sản nhưng trên thực tế thì phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa không có cách gì để bắt buộc đối phương thi hành điều khoản này một phần vì ngay tại các nước này cũng đang nội chiến không có một chính quyền trung ương mạnh.
  6. Hoa Kỳ có nghĩa vụ sẽ giúp đỡ việc tái thiết sau chiến tranh, đặc biệt là ở Bắc Việt Nam và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh.
    Điều khoản tái thiết sau chiến tranh sau này không được thi hành. Sau này trong thập niên 1990 khi bình thường hoá quan hệ giữa hai nước thì một yêu cầu của phía Hoa Kỳ là Việt Nam phải chấm dứt đòi hỏi Hoa Kỳ nghĩa vụ tái thiết sau chiến tranh mà như hiệp định đã quy định.
  7. Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt nam.
    Điều khoản cuối của hiệp định và cũng không có điều khoản cưỡng chế: hiệp định không đưa ra được biện pháp và lực lượng cưỡng chế nếu một bên vi phạm hiệp định.
 Vai trò và kết quảHiệp định Paris là hiệp định được Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ soạn thảo để đảm bảo cho việc Hoa Kỳ ra khỏi chiến tranh. Đối với Hoa Kỳ đây là cách họ ra khỏi cuộc chiến mệt mỏi này một cách chính đáng. Đối với Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì hiệp định này là bước thứ nhất trong hai bước để đi đến thắng lợi cuối cùng. Đối với Việt Nam Cộng hoà thì hiệp định này là một tai ương lớn đối với chính thể của họ và đặt sự tồn tại của Việt Nam Cộng hoà trước một nguy hiểm trong một tương lai gần.Để trấn an Việt Nam Cộng hoà, Tổng thống Nixon đã hứa riêng bằng lời với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là trong trường hợp Bắc Việt Nam phát động chiến tranh tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa thì Hoa Kỳ sẽ phản ứng bằng cách thích hợp để bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng hòa. Tất nhiên lời hứa này sẽ không có giá trị thực tế vì sau đó Quốc hội Hoa Kỳ đã ra nghị quyết không cho phép đưa lực lượng vũ trang trở lại Đông Dương mà không được phép của Quốc hội và quy định khuôn khổ viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Với các áp đặt như vậy thì dù không có sự kiện Watergate, dù Tổng thống Nixon có tại vị thì cũng không thể giữ lời hứa một cách hữu hiệu được. Đối với người Mỹ họ thực sự muốn đóng lại cuộc chiến, quên nó đi và mở sang một trang sử mới.Hoa Kỳ rút quân theo Hiệp định Paris. Nguồn: Sách Chính phủ Việt nam 1945- 1998 NXB Chính trị Quốc gia 7.1999Chính vì vậy trong hiệp định có những điều khoản có vẻ là nhượng bộ của Bắc Việt Nam nhưng chẳng có ai có thể kiểm chứng và cưỡng chế được; ví dụ điều khoản quy định quân đội Bắc Việt Nam được quyền thay quân và trang bị vũ khí theo nguyên tắc một-đổi-một. Số quân Bắc Việt trên chiến trường lúc đó, số quân của họ trên đường mòn Hồ Chí Minh, số vũ khí họ mang vào và mang ra là những dữ liệu không thể kiểm chứng được. Còn vũ khí Mỹ vào Việt Nam qua các cảng và cầu hàng không thì dễ dàng được quản lý. Tương tự, điều khoản về ngăn cấm các bên lập căn cứ quân sự trên đất Lào và Campuchia trung lập là nhượng bộ của Bắc Việt Nam nhưng phía đối phương không thể có biện pháp áp chế hữu hiệu gì. Điều khoản uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế cũng chỉ là hình thức vì quyền lực của uỷ ban này không có đủ để can thiệp gì vào các tiến trình sự việc. Các điều khoản về quy chế chính trị như thành lập chính phủ hoà hợp dân tộc tiến tới thống nhất cũng không có cơ chế thi hành mà chỉ là ý tưởng đẹp...Nói chung hiệp định này chỉ được thi hành nghiêm chỉnh ở những điều khoản rút quân Mỹ (cùng các đồng minh khác) và trao trả tù binh Mỹ mà thôi. Hoa Kỳ thực sự muốn rút khỏi cuộc chiến và miền Bắc sẵn sàng tạo điều kiện cho việc đó.Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút hết vào cuối tháng 3 năm 1973, Bắc Việt Nam và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chuẩn bị cho việc đánh dứt điểm chính quyền Việt Nam Cộng hoà, còn Việt Nam Cộng Hòa cố gắng xoay trở chống đỡ chẳng kể gì đến hiệp định. Vai trò của Hiệp định Paris, trên thực tế, đến đây là đã hết. Các nhân vật đại diện  Các nhân vật khác               
Hội nghị Paris 1973: Hồi ức của những người trong cuộc
25/01/2008 15:19 (GMT + 7)
"Buổi lễ ký kết hòa bình của Việt Nam trong Hội nghị Paris về Việt Nam năm 1973 diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra".
>> Hội nghị Paris về Việt Nam: Những hồi tưởng
Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định chấp dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở
Việt Nam (Trung tâm Hội nghị quốc tế Paris, 27/1/1973).
(Ảnh chụp trong cuốn Mặt trận giải phóng CP CM lâm thời tại Paris 1973 về VN)

Hội nghị Paris về Việt Nam (27/1/1973) là một cuộc đấu tranh cực kỳ quyết liệt, gay go, là cuộc đối đầu giữa nền ngoại giao cách mạng và ngoại giao quen ỷ vào thế mạnh quân sự và kinh tế của Mỹ.

Kết hợp giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ đánh và đàm trong tư thế chủ động tiến công, chúng ta đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris 1973, chấm dứt dính líu quân sự ở Việt Nam.
Nhân kỷ niệm 35 năm Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, Tuần Việt Nam xin giới thiệu và trích đăng một số kỷ niệm không bao giờ quên của những người đã trực tiếp tham gia công tác trong đoàn đàm phán về Hội nghị Paris. Nguồn tư liệu: Cuốn sách "Mặt trận giải phóng Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam" - Tác giả: Nguyễn Thị Bình và Tập thể Tác giả - NXB Chính trị Quốc gia, năm 2001).

Từ đó phác họa sơ lược nhất khung cảnh, không khí và phạm vi những hoạt động đa dạng của một Hội nghị mang dấu ấn lịch sử cách mạng hào hùng của Việt Nam. Lần đầu đến Paris...
Trước trung tâm Hội nghị Quốc tế, ngày mở đầu Hội nghị Paris về VN (25/1/1969)
(Ảnh chụp trong cuốn Mặt trận giải phóng CP CM lâm thời tại HN Paris 1973 về VN)

Ngày 4/11/1968, đoàn chúng tôi đến sân bay Le Bourget (Paris). Lúc đó khoảng gần trưa. Trời đẹp và hơi lạnh vì đã gần cuối thu. [...].

Lần đầu tiên, giữa thủ đô tráng lệ, người dân Paris bắt gặp một đoàn xe màu đen bóng loáng loại DS (đọc lên là déesse, có nghĩa là "nữ thần"), phấp phới lá cờ nửa xanh nửa đỏ với ngôi sao vàng, có ôtô và môtô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống.
Người đi đường dừng lại nhìn đoàn xe, có lẽ qua tin tức báo chí, biết rằng hôm nay có đoàn đại biểu "Việt cộng" tới Paris, nhưng chắc nhiều người chưa đoán ra ngay đoàn đại biểu nước nào mà có nhiều "mô-ta" (cảnh sát đi môtô) hộ tống oai nghiêm đến thế. Ngồi trên xe, nhìn lá cờ Mặt trận, tôi không nén được bồi hồi xúc động, tự hào và biết ơn... Mới ngày nào bà con Việt kiều mình vì trung thành với lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc mà bị nhà cầm quyền thực dân làm khó dễ; bản thân tôi cũng đã bị thực dân Pháp giam giữ tù đày tra khảo từ hồi còn là nữ sinh ở Sài Gòn...

Giờ đây, giữa thủ đô Pháp, chúng tôi được đón tiếp với đầy đủ nghi lễ ngoại giao, trong tư thế người đại diện của nhân dân miền Nam Việt Nam đang chiến đấu và sẽ ngồi đàm phán với một đế quốc lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ.
Hôm sau, hầu như tất cả các báo Pháp và báo các nước phát hành ở Paris đều mang tựa đề lớn: "Đại diện của Việt cộng đã đến Paris".

Kèm theo đó là những tường thuật và bình luận của cuộc đón tiếp, về người phụ nữ đại diện của "Việt cộng" với những tình tiết thật ly kỳ: "
Việt cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp bà Bình ở Paris", "Bà Bình như một bà hoàng, được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính qui, lại được hoan nghênh nhiệt liệt", "Bà Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có".

Có người còn "tán" rằng, bà Bình làm cho Paris thêm rạng rỡ! Chị Madeleine Riffaud, nhà báo Pháp, người bạn thân thiết của Việt Nam đã từng xông pha vào tận các chiến khu của Nam, cho biết là báo chí và nhiều người dân Pháp tỏ rõ cảm tình với chúng tôi. 
(Trích hồi ức của Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris về Việt Nam)."Quả bom nổ trên bàn hội nghị"
Đoàn đại biểu chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng do ông Trần Bửu Kiếm
dẫn đầu đến Paris ngày 16/12/1968
(Ảnh chụp trong cuốn Mặt trận giải phóng CP CM lâm thời tại HN Paris 1973 về VN)

Ở Paris, tháng năm đến đem mùa xuân nắng đẹp và hoa khoe muôn màu, nhưng Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber vấn im lìm "trong giấc ngủ mùa đông" như một số nhà báo quốc tế nói.
Ngày thứ năm, 8/5/1969 là ngày họp phiên thứ 16. Tối hôm trước, không khí chuẩn bị cho phiên họp ở hai đoàn Việt Nam rất khẩn trương, chúng tôi làm việc đến tận 3, 4 giờ sáng để chuẩn bị cho "sự kiện lớn". Sáng hôm đó, trước khi đi họp chúng tôi đã "rỉ tai" cho một số nhà báo và hãng thông tấn quen biết rằng họ hãy "chờ điều mới". Hôm ấy, trưởng đoàn Hoa Kỳ, đại sứ Cabot Lodge, đến hội nghị vẫn với vẻ mặt chán chường, ngồi vào bàn họp nhưng mắt dán vào một tài liệu nào đó.

Bỗng Bộ trưởng Xuân Thủy, trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nói:
"Hôm nay chúng tôi nhường cho ông trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng phát biểu trước". Đoàn Mỹ và Sài Gòn như "bừng tỉnh", ông Lodge ngồi thẳng dậy. Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng, Trần Bửu Kiếm, vẫn với giọng khoan thai như mọi phiên, nói: "Hôm nay nhằm bày tỏ thiện chí và với lòng mong muốn đưa Hội nghị của chúng ta khỏi bế tắc, tôi thay mặt Mặt trận Dân tộc Giải phóng đưa ra "Giải pháp toàn bộ 10 điểm" để giải quyết vấn đề Việt Nam". Rồi ông chậm rãi đọc từng điểm một, bao gồm giải pháp về tất cả các mặt: quân sự, chính trị, quan hệ đối nội và đối ngoại của miền Nam Việt Nam trong tương lai, việc giải quyết hậu quả chiến tranh, việc kiểm soát quốc tế, việc thống nhất đất nước trong tương lai.

Ông Lodge càng chăm chú khi anh Trần Bửu Kiếm nêu lên hai điểm trong giải pháp, đòi Mỹ rút toàn bộ và không điều kiện quân đội Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam và nêu lên việc thành lập một chính phủ liên hiệp để tổ chức tổng tuyển cử.

Có lẽ trưởng đoàn Hoa Kỳ muốn nghe ngay một lúc tất cả 10 điểm nhưng ông ta vẫn phải nghe từng điểm một.
Thủ tục hội nghị đã qui định rằng, sau phát biểu của trưởng đoàn, một người phiên dịch câu ấy sang tiếng Pháp, và một người phiên dịch thứ hai mới dịch ra tiếng Anh. Khi anh Kiếm đọc đến đoạn nói: "Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết", chúng tôi thấy ông Lodge ghi vội điều gì đó trong sổ tay. Đọc hết 10 điểm, anh Trần Bửu Kiếm lại phân tích và bình luận mất gần một giờ. Tiếp theo là Bộ trưởng Xuân Thủy đọc bài phát biểu ủng hộ hoàn toàn Giải pháp do Mặt trận đề ra. Hai bài phát biểu sau đó của trưởng đoàn Hoa Kỳ và trưởng đoàn Sài Gòn tất nhiên là nhạt nhẽo và lạc điệu. Sau giờ nghỉ giữa buổi, họ đọc lời bình luận được chuẩn bị gấp gáp, tuyên bố giải pháp "phía các ông" không có gì mới mẻ và "tiếp tục có những đòi hỏi phi lý không thể chấp nhận được."Thực ra, đây là lần đầu tiên trên bàn hội nghị có một đề nghị giải pháp đầy đủ, cụ thể, với những điểm rất mới mà các nhà quan sát chính trị đều chú ý.

Giải pháp nêu lên những đòi hỏi chính đáng và nguyện vọng xây dựng một miền Nam hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ, có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, kể cả Hoa Kỳ, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước.
Về sau này, trong Hồi ký "Những năm ở nhà Trắng", Tiến sĩ H.Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Mỹ, nhận xét "Giải pháp 10 điểm" của Mặt trận, đã viết: "Kế hoạch này lời lẽ thì xấc xược (insolent), nội dung thì đơn phương (unilateral). Tuy nhiên, chỉ riêng sự có mặt của một kế hoạch hòa bình của cộng sản, dù cho bản thân nó là bất ngờ, đã dấy lên một sự phản ứng tức khắc của Quốc hội, của các thông tin đại chúng và của công chúng làm áp lực lên chính phủ, đòi không để lỡ mất cơ hội này". [...]Những ngày sau đó, phóng viên nhiều hãng thông tấn Mỹ, Bắc Âu, Đức, Nhật... đến trụ sở đoàn để xin phỏng vấn về Giải pháp. Được vũ trang bằng "10 điểm" đó, chúng tôi trả lời rất "mạnh miệng". Cuối tháng 5/1969, tôi được theo anh Trần Bửu Kiếm sang thăm Cuba. Đồng chí Fidel Castro ra đón tận máy bay, quần chúng tập trung hoan hô suốt dọc đường. Tại cuộc hội đàm với Bộ Chính trị và Chính phủ Cuba, anh Kiếm đã thông báo tình hình miền Nam và trình bày lập trường "10 điểm" của Mặt trận. Trong lúc nói chuyện vui, đồng chí Fidel hỏi đoàn ta có ai biết hút xì gà không, nếu có thì đồng chí sẽ biếu đoàn những điều xì gà ngon nhất do Cuba sản xuất để đoàn đem ra "hút trước mũi đoàn Hoa Kỳ" tại bàn hội nghị, Fidel nói: "Tôi cam đoan với các đồng chí rằng bọn họ sẽ chết thèm!". Tối ngày 3/6, gần một triệu dân thủ đô La Habana tập trung tại quảng trường Cách mạng nghe đồng chí Fidel và anh Kiếm nói chuyện. Chủ tịch Fidel Catro đã nhiệt liệt ca ngợi cuộc kháng chiến của nhân dân ta và ủng hộ mạnh mẽ lập trường "10 điểm" của Mặt trận, khẳng định một lần nữa sự ủng hộ chí tình dành cho Việt Nam. Trên đường về, anh Kiếm đã ghé thăm nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Algerie, hội đàm với Tổng thống Houari Boumediene và ngoại trưởng A.Bouteflika, giành được sự ủng hộ kiên quyết cho Giải pháp 10 điểm. (Trích hồi ức của ông Lý Văn Sáu, người phát ngôn của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng - Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam).Đêm giao thừa - Ngọc hoàng là ai?
Các chị Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Ngọc Dung, Nguyễn Thị Chơn, Thanh Hằng
trong "Vườn rau Việt Cộng" tại Verrières-le-Buison
(Ảnh chụp trong cuốn Mặt trận giải phóng CP CM lâm thời tại HN Paris 1973 về VN)

Cho đến cái đêm "vui nổ trời" - Giao thừa tết Tân Hợi (năm 1971), giữa lúc Hội nghị đang dậm chân tại chỗ, tâm trạng anh em sốt ruột, lo buồn không biết bao giờ Hội nghị mới kết thúc, một chương trình văn nghệ đón giao thừa huy động tổng lực các khả năng tiềm tàng trong anh chị em được tổ chức.
Trước sự ngạc nhiên đầy thích thú của các vị khách quí từ Choisy-le-Roi, căn cứ địa của đoàn Miền Bắc, dẫn đầu là đồng chí Xuân Thủy, từ Verrières-le-Buison, và một số đông bà con Việt kiều đã từ lâu "nhập tịch", ăn, ở, làm việc chung với đoàn và các đồng chí Pháp (lái xe, bảo vệ), tôi và cô Hằng xuất hiện trong những chiếc xà rông Lào màu sắc với điệu múa "Hoa Chămpa duyên dáng"...

Đặc biệt là màn "Táo quân trình sớ Ngọc Hoàng" cổ truyền được Paris hóa một cách thật dí dỏm, đã lôi cu
Nhắn tin cho tác giả
Lê Tấn Dũng @ 15:20 21/03/2009
Số lượt xem: 370
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến